Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan hệ quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan hệ quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

VIỆT NAM, LÀO, CAMPUCHIA ĐOÀN KẾT, CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VÀ CĂN CỨ ĐỊA (1954-1960)



Nguyễn Thị Mai Hoa
Được tôi rèn trong khói lửa chiến tranh, những năm 1954-1960, Việt Nam – Lào –Campuchia đã sát cánh bên nhau, gây dựng thực lực, cùng chia lửa trên một chiến trường, đấu tranh cho một ngày mai độc lập. Song song với việc đoàn kết, giúp đỡ Lào, Campuchia đấu tranh thực hiện Hiệp định Geneve, Việt Nam tích cực giúp đỡ hai nước xây dựng lực lượng cách mạng và chỗ đứng chân. Từ trước khi Hiệp định Geneve ký kết, Việt Nam đã chủ trương phải xây dựng lực lượng vũ trang Lào, “giúp cán bộ Lào mạnh dạn phát triển, tiến tới một trung đoàn giải phóng. Bộ đội tình nguyện cũng cần tập trung tiểu đoàn dần dần đến Trung đoàn tùy theo điều kiện và trong những thời kỳ nhất định”[1]. 

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

VIỆT NAM – LÀO – CAMPUCHIA ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH GENEVE (1954-1960)



Ngay sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, chính sách của Mỹ ở Lào và Nam Việt Nam, Campuchia là chính sách can thiệp và xâm lược dưới những hình thức và thủ đoạn khác nhau. Sau Hiệp định Geneve, lực lượng kháng chiến Lào tập kết về hai tỉnh Hủa-phăn (căn cứ Sầm Nưa) và Phong-xa-lỳ[1]. Chính quyền Viêng Chăn vẫn giành quyền kiểm soát đại bộ phận lãnh thổ Lào (10 tỉnh). Thực hiện âm mưu tiêu diệt lực lượng kháng chiến Lào, Mỹ ồ ạt viện trợ kinh tế, quân sự[2] cho chính quyền, quân đội Viêng Chăn[3], từng bước chi phối mọi mặt ở Lào. Trong Hội nghị Geneve về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương (1954), do tương quan lực lượng và do ý đồ của một số cường quốc muốn hạn chế thắng lợi của cách mạng Đông Dương nên lực lượng kháng chiến Campuchia không có vùng tập kết buộc phải giải tán, sống hoà nhập vào cộng đồng xã hội. Hiệp định Geneve công nhận chính phủ Vương quốc Campuchia là chính phủ hợp pháp của Campuchia, do Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc[4] đứng đầu.

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT – LÀO – CAMPUCHIA CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
I. Yêu cầu khách quan hình thành liên minh đoàn kết chiến đấu Việt – Lào- Campuchia trong lịch sử
Bán đảo Đông Dương là nơi gặp gỡ của nhiều luồng di cư khác nhau, tạo nên sự đa dạng về thành phần tộc người đại diện cho ngữ hệ Nam Á (gồm các nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, Tày-Thái, Môn-Khơme, Mèo-Dao) và ngữ hệ Nam Đảo-những ngữ hệ của cư dân bản địa sinh sống lâu đời. Bên cạnh đó còn có ngữ hệ Hán-Tạng và ngoại kiều gia nhập “đại gia đình Đông Dương” tương đối muộn và chịu sự chi phối của các tộc người bản địa.
Để cùng chinh phục thiên nhiên, các tộc người trên toàn Đông Dương đã có sự hợp tác, giúp đỡ, không ngừng mở rộng khu vực địa lí sinh sống. Khi ba quốc gia hình thành trên bán đảo Đông Dương, quan hệ này giữa nhân dân ba nước vẫn tiếp tục phát triển, mà biểu hiện rõ nét nhất là nhân dân Việt Nam ở Đàng Trong cùng với nhân dân Khơme chung sức khai thác vùng châu thổ hạ lưu sông Mê Kông, hình thành một vùng kinh tế mới.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM 1950-1975


Việt Nam, Trung Quốc là hai nước láng giềng vốn có mối quan hệ lâu đời. Mối quan hệ này được quy định bởi sự gần gũi về địa lý, văn hóa và ở một thời là bởi ý thức hệ.
Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công (1-10-1949), ngày 18-1-1950, Trung Quốc ra tuyên bố công nhận Việt Nam DCCH - một sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là một mốc son trong quan hệ Việt - Trung, mà còn là sự kiện mang tính mở đường trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN CUỐI THẬP NIÊN 50 (XX)



1- Ngọn lửa Chiến tranh Lạnh và quan hệ hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa
Sau Chiến tranh thế giới thế giới thứ hai, bản đồ chính trị thế giới về căn bản có sự thay đổi. Trật tự thế giới mới - trật tự hai cực Ianta được hình thành trên cơ sở lợi ích của các cường quốc với hai hệ thống đối lập nhau do Liên Xô và Mỹ - hai siêu cường đứng đầu có những ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ các mối quan hệ quốc tế, lôi cuốn các khu vực, các quốc gia vào một hình thức chiến tranh mới - Chiến tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh[1] là một hiện tượng quan hệ quốc tế phản ánh cuộc đối đầu toàn diện và toàn cầu[2], đầy những cuộc khủng hoảng và xung đột giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ ở cả vũ đài trung tâm (châu Âu) lẫn ở vùng ngoại vi (châu Phi, châu Á và Trung Đông). Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như sự thống trị mang tính thù địch với thế giới tư bản, đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ. Việc tiếp quản của Liên Xô đối với của các quốc gia Đông Âu, khiến Winston Churchill lo ngại, cảnh báo vào năm 1946 rằng, một "bức màn sắt" đã được buông dần xuống giữa châu Âu. 

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

KHÚC QUANH TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC (1975-1979)



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Với chiến thắng lịch sử Mùa Xuân 1975, Việt Nam đã hoàn toàn độc lập; khát vọng bấy lâu về một đất nước thống nhất, vẹn toàn của cả dân tộc đã thành hiện thực.  Việt Nam xây dựng lại đất nước trong điều kiện khu vực, thế giới đang có những thay đổi quan trọng. Từ cuối những năm 70 (XX), so sánh lực lượng trên thế giới về quân sự có sự thay đổi, Liên Xô đã giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ, dẫn đến giai đoạn hòa hoãn giữa các nước lớn: Hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây Âu - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc. Thiện chí và nỗ lực giảm căng thẳng của các nước lớn đứng đầu mỗi cực thể hiện qua những cuộc gặp cấp cao giữa Liên Xô và Mỹ, cải thiện đáng kể quan hệ giữa các nước thuộc hai khối XHCN và TBCN.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

KHÁI LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY


Trong lịch sử quan hệ ngoại giao của Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những trục quan hệ hết sức cơ bản, có một vị trí quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp, tác động đa chiều, lâu dài đối với sự phát triển của Việt Nam. Điều này không chỉ do sự chi phối về yếu tố địa lý, mà còn do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, vì vậy, các thể chế Nhà nước của Việt Nam từ xưa đến nay đều đặt vấn đề ứng xử với Trung Quốc là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Thực tế lịch sử cũng cho thấy, thời kỳ nào Việt Nam có nhận thức và xử lý quan hệ với Trung Quốc một cách hợp lý, xử lý tốt quan hệ với Trung Quốc trong mối liên hệ với các quan hệ song phương và đa phương khác, thì Việt Nam tạo lập được môi trường quốc tế thuận lợi, đảm bảo an ninh, hoà bình cho sự phát triển của đất nước.

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC GIÚP ĐỠ VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)


1. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam chống Pháp
Trong thời kỳ Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng Cộng sản, nhân dân Trung Quốc giành cho nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ nhiệt tình cả về tinh thần và vật chất. Ngày 8-10-1949, Đảng Lao động Việt Nam gửi một bức công thư cho Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị: “Đứng trước những khó khăn về kỹ thuật mà điều kiện kinh tế chưa cho phép vượt qua, đứng trước tình hình gấp rút, phải tranh thủ thời gian với địch, đứng trước những nhiệm vụ chiến thuật phải làm để chuyển sang chiến lược mới, chúng tôi không thể không yêu cầu các đồng chí giúp chúng tôi về súng, đạn, dụng cụ, cán bộ… Trong những khoản chúng tôi yêu cầu, có khoản nào các đồng chí không giúp được, xin các đồng chí chuyển lời đề nghị của chúng tôi cho Liên Xô và nói hộ những khó khăn của chúng tôi cho các đồng chí Liên Xô rõ…”[1]. Tuy nhiên, thời kỳ đầu, khả năng giúp đỡ của Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam chưa lớn, vì cách mạng Trung Quốc mới thành công, đang gặp muôn vàn khó khăn.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

NHỮNG ĐỒNG MINH ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM THÁNG GIAN KHÓ



1- Chủ trương đối ngoại phá vây
Cuối năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai có những bước ngoặt mới, chuyển biến mau lẹ, phát xít Đức bại trận. Ở châu Á, quân phiệt Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện. Thời cơ thuận lợi đã tới, “dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập[1]; trên tinh thần ấy, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương (14-15/8/1945) quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân đồng minh kéo vào.
"Thời cơ ngàn năm có một" đã đến, nhân dân Việt Nam nổi dậy, tiến hành thắng lợi Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1945), giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của cả dân tộc Việt Nam đã thành hiện thực.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
1-Mười ngày rung chuyển thế giới
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa đế quốc khiến cho các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên hết sức gay gắt. Về kinh tế, các ông chủ tư bản tăng cường bóc lột các tầng lớp nhân dân khiến đời sống các tầng lớp này đã khốn khó lại càng cùng cực thêm. Sự cách biệt giữa tầng lớp thượng lưu với nhân dân lao động ngày càng lớn dần lên. Đây cũng là một trong những yếu tố tác động trực tiếp, thúc đẩy cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và công nhân, giữa nông dân và địa chủ ở các nước tư bản diễn ra quyết liệt.
Đầu thế kỷ XX, trung tâm cách mạng thế giới từ nước Đức đã chuyển sang nước Nga. Lúc này, chủ nghĩa tư bản ở Nga với tính chất độc quyền và lũng đoạn cộng lực với tàn tích nông nô và chế độ quân chủ chuyên chế điển hình của Nga hoàng trở thành tác nhân quan trọng khiến các mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, giữa địa chủ và nông dân trở nên hết sức sâu sắc. Nước Nga đế quốc phong kiến trở thành mắt khâu yếu nhất trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa.

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

QUAN HỆ QUỐC TẾ SAU SỰ KIỆN 11-9 QUA QUAN HỆ SONG PHƯƠNG TRONG TAM GIÁC CHIẾN LƯỢC MỸ- NGA - TRUNG


MỞ ĐẦU
Nhân loại đang từ giã những năm đầu tiên của thế kỉ XXI trong một thế giới phức tạp và đầy biến động. Đặc biệt, sự kiện 11/9 ở Mỹ đang làm thay đổi cơ bản những nhận thức về thế giới cũng như tác động đến quan hệ các cường quốc lớn, mà những đại diện đầu tiên phải kể đến ba nước Nga, Mỹ và Trung Quốc. Hẳn chưa ai quên, trong suốt thời kì chiến tranh lạnh, sự vận động thăng trầm của quan hệ tam giác chiến lược Xô-Mỹ-Trung đã từng làm khuynh đảo đời sống chính trị thế giới, tạo lập một thế cân bằng chiến lược đặc thù trong cục diện hai cực Đông- Tây đối đầu gay gắt. Gần 10 năm đã qua, chiến tranh lạnh lùi vào quá khứ, song quan hệ giữa Nga-Trung-Mỹ vẫn diễn biến phức tạp, ẩn chứa nhiều bất trắc khó lường, tác động to lớn đến quá trình định hình một trật tự quốc tế mới, trên cơ sở so sánh lực lượng thế giới đã đổi thay rất căn bản.
Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của thế giới hai cực. Đồng thời, sự sụp đổ này cũng dẫn tới hướng phân chia và tập hợp lực lượng mới giữa các quốc gia.Từ đó hình thành nên những trung tâm quyền lực mới, vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong bối cảnh đó, quan hệ giữa các nước trong tam giác quyền lực Nga-Trung-Mỹ đã có những biến đổi nhanh chóng, quan trọng, sâu sắc.