Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

KHÁI LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN HỆ ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO – CAMPUCHIA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ




Nguyễn Thị Mai Hoa
Là những nước có chung đường biên giới, có vị trí địa lý kề cận, có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam, Lào, Campuchia sớm có mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt. Tình đoàn kết hữu nghị giữa ba nước anh em trên bán đảo Đông Dương không chỉ có từ rất sớm, mà còn khá bền chặt. Quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc Việt – Lào-Campuchia luôn được ĐLĐVN coi trọng, coi đó là quan hệ chiến lược, có ý  nghĩa sống còn với vận mệnh ba nước. Được hình thành trong những năm tháng gian khó chung lưng đấu cật kháng chiến chống thực dân Pháp, trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển. Trước những tính toán và hành động xâm lược Đông Dương của Mỹ, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia một lần nữa cùng chung chiến hào đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc.

NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1985



 Nguyễn Thị Mai Hoa
1. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước năm 1960
Lựa chọn con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về mọi phương diện cho sự ra đời cho chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Đầu năm 1930, ĐCSVN ra đời đã có ngay Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Cương lĩnh xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Với phương hướng chiến lược này, cách mạng Việt Nam phải trải qua các giai đoạn: 1). Hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân; 2). Đi tới xã hội cộng sản. Như vậy, ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định CNXH trở thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam; muốn đi tới CNXH, thì trước tiên phải hoàn thành mục tiêu trực tiếp là thực hiện độc lập dân tộc, còn CNXH là phương hướng tiến lên cho tương lai.

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

RUỘNG ĐẤT THỜI LÝ- TRẦN


I. Đặt vấn đề
Vấn đề ruộng đất trong lịch sử xã hội Việt Nam nói chung và dưới thời Lý-Trần nói riêng luôn được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu. Dưới thời Lý-Trần, Việt Nam  có nhiều loại ruộng đất. Mặc dù có những loại ruộng đất mà thời Lý và thời Trần có sự khác nhau (thời Trần có những hiện tượng mà thời Lý không có như bán quan điền cho dân làm ruộng tư, hay chính thức ra đời loại hình điền trang), nhưng về tổng thể, tuyệt đại đa số các thứ ruộng đều tồn tại ở hai thời Lý- Trần. Vì vậy, nhìn chung, toàn bộ ruộng đất hai thời kì này có thể được xem xét trong cùng một thời kì lớn, gồm nhiều thế kỉ liên tục, từ thế kỉ thứ X- XIV. Tuy vậy, cũng cần phải chú ý thích đáng đến tính lịch sử của mỗi loại ruộng đất.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT KHỔNG – MẠNH


I. Sự ra đời của học thuyết Khổng Tử và Mạnh Tử
Trung Hoa cổ đại hình thành từ cuối thiên niên kỉ thứ II, đầu thiên niên kỉ thứ I trước công nguyên. Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại, thì cùng với Ấn Độ, Trung Hoa là một trong những trung tâm văn hoá rực rỡ, phong phú và cổ xưa nhất của nền văn minh ấy. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa cổ đại đã xuất hiện sớm hơn so với châu Âu hàng nghìn năm. Nhà Hạ là nhà nước đầu tiên của xã hội có giai cấp (khoảng 2205-1765 tr.CN). Trước đó, Trung Hoa cổ đại đã trải qua thời kì rất dài của chế độ cộng sản nguyên thuỷ cùng với nền văn minh đầu tiên ở lưu vực sông Hoàng Hà.

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN CUỐI THẬP NIÊN 50 (XX)



1- Ngọn lửa Chiến tranh Lạnh và quan hệ hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa
Sau Chiến tranh thế giới thế giới thứ hai, bản đồ chính trị thế giới về căn bản có sự thay đổi. Trật tự thế giới mới - trật tự hai cực Ianta được hình thành trên cơ sở lợi ích của các cường quốc với hai hệ thống đối lập nhau do Liên Xô và Mỹ - hai siêu cường đứng đầu có những ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ các mối quan hệ quốc tế, lôi cuốn các khu vực, các quốc gia vào một hình thức chiến tranh mới - Chiến tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh[1] là một hiện tượng quan hệ quốc tế phản ánh cuộc đối đầu toàn diện và toàn cầu[2], đầy những cuộc khủng hoảng và xung đột giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ ở cả vũ đài trung tâm (châu Âu) lẫn ở vùng ngoại vi (châu Phi, châu Á và Trung Đông). Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như sự thống trị mang tính thù địch với thế giới tư bản, đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ. Việc tiếp quản của Liên Xô đối với của các quốc gia Đông Âu, khiến Winston Churchill lo ngại, cảnh báo vào năm 1946 rằng, một "bức màn sắt" đã được buông dần xuống giữa châu Âu. 

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

KHÚC QUANH TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC (1975-1979)



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Với chiến thắng lịch sử Mùa Xuân 1975, Việt Nam đã hoàn toàn độc lập; khát vọng bấy lâu về một đất nước thống nhất, vẹn toàn của cả dân tộc đã thành hiện thực.  Việt Nam xây dựng lại đất nước trong điều kiện khu vực, thế giới đang có những thay đổi quan trọng. Từ cuối những năm 70 (XX), so sánh lực lượng trên thế giới về quân sự có sự thay đổi, Liên Xô đã giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ, dẫn đến giai đoạn hòa hoãn giữa các nước lớn: Hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây Âu - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc. Thiện chí và nỗ lực giảm căng thẳng của các nước lớn đứng đầu mỗi cực thể hiện qua những cuộc gặp cấp cao giữa Liên Xô và Mỹ, cải thiện đáng kể quan hệ giữa các nước thuộc hai khối XHCN và TBCN.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

KHÁI LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY


Trong lịch sử quan hệ ngoại giao của Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những trục quan hệ hết sức cơ bản, có một vị trí quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp, tác động đa chiều, lâu dài đối với sự phát triển của Việt Nam. Điều này không chỉ do sự chi phối về yếu tố địa lý, mà còn do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, vì vậy, các thể chế Nhà nước của Việt Nam từ xưa đến nay đều đặt vấn đề ứng xử với Trung Quốc là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Thực tế lịch sử cũng cho thấy, thời kỳ nào Việt Nam có nhận thức và xử lý quan hệ với Trung Quốc một cách hợp lý, xử lý tốt quan hệ với Trung Quốc trong mối liên hệ với các quan hệ song phương và đa phương khác, thì Việt Nam tạo lập được môi trường quốc tế thuận lợi, đảm bảo an ninh, hoà bình cho sự phát triển của đất nước.

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC GIÚP ĐỠ VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)


1. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam chống Pháp
Trong thời kỳ Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng Cộng sản, nhân dân Trung Quốc giành cho nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ nhiệt tình cả về tinh thần và vật chất. Ngày 8-10-1949, Đảng Lao động Việt Nam gửi một bức công thư cho Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị: “Đứng trước những khó khăn về kỹ thuật mà điều kiện kinh tế chưa cho phép vượt qua, đứng trước tình hình gấp rút, phải tranh thủ thời gian với địch, đứng trước những nhiệm vụ chiến thuật phải làm để chuyển sang chiến lược mới, chúng tôi không thể không yêu cầu các đồng chí giúp chúng tôi về súng, đạn, dụng cụ, cán bộ… Trong những khoản chúng tôi yêu cầu, có khoản nào các đồng chí không giúp được, xin các đồng chí chuyển lời đề nghị của chúng tôi cho Liên Xô và nói hộ những khó khăn của chúng tôi cho các đồng chí Liên Xô rõ…”[1]. Tuy nhiên, thời kỳ đầu, khả năng giúp đỡ của Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam chưa lớn, vì cách mạng Trung Quốc mới thành công, đang gặp muôn vàn khó khăn.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

NHỮNG ĐỒNG MINH ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM THÁNG GIAN KHÓ



1- Chủ trương đối ngoại phá vây
Cuối năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai có những bước ngoặt mới, chuyển biến mau lẹ, phát xít Đức bại trận. Ở châu Á, quân phiệt Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện. Thời cơ thuận lợi đã tới, “dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập[1]; trên tinh thần ấy, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương (14-15/8/1945) quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân đồng minh kéo vào.
"Thời cơ ngàn năm có một" đã đến, nhân dân Việt Nam nổi dậy, tiến hành thắng lợi Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1945), giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của cả dân tộc Việt Nam đã thành hiện thực.

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

DÒNG HỌ TRONG QUAN HỆ LÀNG XÃ


1. Đặt vấn đề
Dòng họ là một hiện tượng lịch sử có tính nhân loại và liên thời đại. Đây là một hình thức liên kết theo nhóm huyết thống sớm nhất trong quá trình phát triển của loài người. So với nhiều hình thức liên kết khác nhau như cư trú (làng xóm, thôn bản…) và lợi ích, nghề nghiệp (phường hội, giai cấp…), liên kết dòng họ có vai trò chi phối, ảnh hưởng tương đối lớn và sâu sắc đến con người trong sự tồn tại của mình.
Ở Việt Nam, đặc biệt là ở làng xã, dòng họ mang nhiều nét đặc thù so với thế giới. Quan hệ dòng họ và làng xã hầu như gắn liền và không tách rời nhau. Dòng họ không tách biệt, đối lập mà liên quan chặt chẽ trong một môi trường văn hoá mang tính đặc thù. Truyền thống dòng họ góp phần cơ bản và là một nhân tố tạo nên truyền thống làng xã, địa phương, rộng hơn là truyền thống dân tộc. Trong lịch sử, không thiếu những trường hợp những nhân vật kiệt xuất đã mang lại vinh quang cho gia đình, dòng họ, dân tộc. Như vậy, dòng họ và văn hoá dòng họ còn là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển văn hoá  làng xã nói riêng và văn hoá xã hội Việt Nam nói chung.