Ngay sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, chính sách của Mỹ ở
Lào và Nam Việt Nam, Campuchia là chính sách can thiệp và xâm lược dưới những hình thức
và thủ đoạn khác nhau. Sau
Hiệp định Geneve, lực lượng kháng chiến Lào
tập kết về hai tỉnh Hủa-phăn (căn cứ Sầm Nưa) và Phong-xa-lỳ[1].
Chính quyền Viêng Chăn vẫn giành quyền kiểm soát đại bộ phận lãnh thổ Lào (10
tỉnh). Thực hiện âm mưu tiêu diệt lực lượng kháng chiến Lào, Mỹ ồ ạt viện trợ
kinh tế, quân sự[2] cho
chính quyền, quân đội Viêng Chăn[3],
từng bước chi phối mọi mặt ở Lào. Trong Hội nghị Geneve
về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương (1954), do tương quan lực
lượng và do ý đồ của một số cường quốc muốn hạn chế thắng lợi của cách mạng
Đông Dương nên lực lượng kháng chiến Campuchia không có vùng tập kết buộc phải
giải tán, sống hoà nhập vào cộng đồng xã hội. Hiệp định Geneve công nhận chính phủ Vương quốc Campuchia là chính phủ hợp
pháp của Campuchia, do Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc[4]
đứng đầu.
Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013
Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013
KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT – LÀO – CAMPUCHIA CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
I. Yêu cầu khách quan hình thành liên
minh đoàn kết chiến đấu Việt – Lào- Campuchia
trong lịch sử
Bán đảo Đông Dương là nơi gặp gỡ của nhiều
luồng di cư khác nhau, tạo nên sự đa dạng về thành phần tộc người đại diện cho
ngữ hệ Nam Á (gồm các nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, Tày-Thái, Môn-Khơme, Mèo-Dao)
và ngữ hệ Nam Đảo-những ngữ hệ của cư dân bản địa sinh sống lâu đời. Bên cạnh
đó còn có ngữ hệ Hán-Tạng và ngoại kiều gia nhập “đại gia đình Đông Dương”
tương đối muộn và chịu sự chi phối của các tộc người bản địa.
Để cùng chinh phục thiên nhiên, các tộc người
trên toàn Đông Dương đã có sự hợp tác, giúp đỡ, không ngừng mở rộng khu vực địa
lí sinh sống. Khi ba quốc gia hình thành trên bán đảo Đông Dương, quan hệ này
giữa nhân dân ba nước vẫn tiếp tục phát triển, mà biểu hiện rõ nét nhất là nhân
dân Việt Nam ở Đàng Trong cùng với nhân dân Khơme chung sức khai thác vùng châu
thổ hạ lưu sông Mê Kông, hình thành một vùng kinh tế mới.
Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013
KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM 1950-1975
Việt Nam, Trung Quốc là hai nước láng giềng vốn
có mối quan hệ lâu đời. Mối quan hệ này được quy định bởi sự gần gũi về địa lý,
văn hóa và ở một thời là bởi ý thức hệ.
Sau khi cách mạng Trung
Quốc thành công (1-10-1949), ngày 18-1-1950, Trung Quốc ra tuyên bố công nhận Việt Nam DCCH -
một sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là một
mốc son trong quan hệ Việt - Trung, mà còn là sự kiện mang tính mở đường trong
lịch sử ngoại giao Việt Nam.
Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013
KHÁI LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN HỆ ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO – CAMPUCHIA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Nguyễn Thị Mai
Hoa
Là những nước có chung
đường biên giới, có vị trí địa lý kề cận, có những nét lịch sử - văn hóa tương
đồng, Việt Nam, Lào, Campuchia sớm có mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt.
Tình đoàn kết hữu nghị giữa ba nước anh em trên bán đảo Đông Dương không chỉ có
từ rất sớm, mà còn khá bền chặt. Quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc
Việt – Lào-Campuchia luôn được ĐLĐVN coi trọng, coi đó là quan hệ chiến lược,
có ý nghĩa sống còn với vận mệnh ba nước. Được hình thành trong những năm
tháng gian khó chung lưng đấu cật kháng chiến chống thực dân Pháp, trong kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc
tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển. Trước những tính toán và hành
động xâm lược Đông Dương của Mỹ, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia một
lần nữa cùng chung chiến hào đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc.
NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1985
Nguyễn Thị Mai Hoa
1. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam trước năm 1960
Lựa chọn con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con
đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về mọi phương diện cho
sự ra đời cho chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Đầu năm 1930, ĐCSVN ra đời đã có
ngay Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
Cương lĩnh xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Với phương
hướng chiến lược này, cách mạng Việt Nam phải trải qua các giai đoạn: 1). Hoàn
thành cách mạng giải phóng dân tộc và giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân;
2). Đi tới xã hội cộng sản. Như vậy, ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định
CNXH trở thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam; muốn đi tới CNXH, thì trước
tiên phải hoàn thành mục tiêu trực tiếp là thực hiện độc lập dân tộc, còn CNXH
là phương hướng tiến lên cho tương lai.
Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013
RUỘNG ĐẤT THỜI LÝ- TRẦN
I.
Đặt vấn đề
Vấn đề ruộng đất trong lịch sử xã
hội Việt Nam nói chung và dưới thời Lý-Trần nói riêng luôn được các nhà khoa
học quan tâm, nghiên cứu. Dưới thời Lý-Trần, Việt Nam có nhiều loại ruộng
đất. Mặc dù có những loại ruộng đất mà thời Lý và thời Trần có sự khác nhau
(thời Trần có những hiện tượng mà thời Lý không có như bán quan điền cho dân
làm ruộng tư, hay chính thức ra đời loại hình điền trang), nhưng về tổng thể,
tuyệt đại đa số các thứ ruộng đều tồn tại ở hai thời Lý- Trần. Vì vậy, nhìn
chung, toàn bộ ruộng đất hai thời kì này có thể được xem xét trong cùng một
thời kì lớn, gồm nhiều thế kỉ liên tục, từ thế kỉ thứ X- XIV. Tuy vậy, cũng cần
phải chú ý thích đáng đến tính lịch sử của mỗi loại ruộng đất.
Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013
QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT KHỔNG – MẠNH
I. Sự ra đời của học thuyết Khổng Tử và Mạnh
Tử
Trung Hoa cổ đại hình thành từ cuối thiên niên kỉ thứ II,
đầu thiên niên kỉ thứ I trước công nguyên. Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại,
thì cùng với Ấn Độ, Trung Hoa là một trong những trung tâm văn hoá rực rỡ,
phong phú và cổ xưa nhất của nền văn minh ấy. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung
Hoa cổ đại đã xuất hiện sớm hơn so với châu Âu hàng nghìn năm. Nhà Hạ là nhà
nước đầu tiên của xã hội có giai cấp (khoảng 2205-1765 tr.CN). Trước đó, Trung
Hoa cổ đại đã trải qua thời kì rất dài của chế độ cộng sản nguyên thuỷ cùng với
nền văn minh đầu tiên ở lưu vực sông Hoàng Hà.
Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013
QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN CUỐI THẬP NIÊN 50 (XX)
1- Ngọn lửa Chiến tranh
Lạnh và quan hệ hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa
Sau Chiến tranh thế giới thế giới thứ hai,
bản đồ chính trị thế giới về căn bản có sự thay đổi. Trật tự thế giới mới - trật
tự hai cực Ianta được hình thành trên cơ sở lợi ích của các cường quốc với hai
hệ thống đối lập nhau do Liên Xô và Mỹ - hai siêu cường đứng đầu có những ảnh
hưởng quyết định đến toàn bộ các mối quan hệ quốc tế, lôi cuốn các khu vực, các
quốc gia vào một hình thức chiến tranh mới - Chiến tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh[1]
là một hiện tượng quan hệ quốc tế phản ánh cuộc đối đầu toàn diện và toàn cầu[2],
đầy những cuộc khủng hoảng và xung đột giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ ở cả
vũ đài trung tâm (châu Âu) lẫn ở vùng ngoại vi (châu Phi, châu Á và Trung
Đông). Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng
cung an ninh châu Âu của Liên Xô như sự thống trị mang tính thù địch với thế giới
tư bản, đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ. Việc tiếp quản của Liên Xô đối với
của các quốc gia Đông Âu, khiến Winston Churchill lo ngại, cảnh báo vào năm
1946 rằng, một "bức màn sắt" đã được buông dần xuống giữa châu Âu.
Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013
KHÚC QUANH TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC (1975-1979)
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Với chiến thắng lịch sử Mùa Xuân
1975, Việt Nam đã hoàn toàn độc lập; khát vọng bấy lâu về một đất nước thống
nhất, vẹn toàn của cả dân tộc đã thành hiện thực. Việt Nam
xây dựng lại đất nước trong điều kiện khu vực, thế giới đang có những thay đổi
quan trọng. Từ cuối những năm 70 (XX), so sánh lực lượng trên thế giới
về quân sự có sự thay đổi, Liên Xô đã giành
được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ, dẫn đến giai đoạn hòa
hoãn giữa các nước lớn: Hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây Âu - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc,
Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc. Thiện chí và nỗ lực giảm căng thẳng của các
nước lớn đứng đầu mỗi cực thể hiện qua những cuộc gặp cấp cao giữa Liên Xô và Mỹ,
cải thiện đáng kể quan hệ giữa các nước thuộc hai khối XHCN và TBCN.
Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013
KHÁI LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY
Trong
lịch sử quan hệ ngoại giao của Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những trục quan hệ hết sức cơ bản, có một vị
trí quan trọng, có ảnh hưởng trực
tiếp, tác động đa chiều, lâu dài đối với sự
phát triển của Việt Nam. Điều này không chỉ do sự chi phối về yếu tố địa lý, mà còn do nhiều yếu
tố chủ quan, khách quan khác nhau, vì vậy, các thể chế Nhà nước của Việt Nam từ
xưa đến nay đều đặt vấn đề ứng xử với Trung Quốc là một trong những mối quan
tâm hàng đầu. Thực tế lịch sử cũng cho thấy, thời kỳ nào Việt Nam có nhận thức
và xử lý quan hệ với Trung Quốc một cách hợp lý, xử lý tốt quan hệ với Trung
Quốc trong mối liên hệ với các quan hệ song phương và đa phương khác, thì Việt
Nam tạo lập được môi trường quốc tế thuận lợi, đảm bảo an ninh, hoà bình cho sự
phát triển của đất nước.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









